|
|
|
Phóng
viên Kim Oanh, báo Nhân
Đạo và Đời Sống phỏng vấn vợ
chồng Hải và Johannes |
|
|
|
Anh
chị
suy
nghĩ như thế nào về hoạt động nhân đạo từ thiện ở Việt Nam và có điều gì khác
biệt so với ở Đức ?
|
|
|
|
Do sự khác biệt về
văn hóa và cơ cấu tổ chức xã hội nên có rất nhiều điểm khác biệt giữa hoạt động
nhân đạo từ thiện ở Việt Nam và ở Đức.
Ở Đức, những người
dân nghèo, thất nghiệp đều được nhận được các chính sách giúp đỡ từ chính phủ.
Họ được hỗ trợ tiền thuê nhà, tiền để mua lương thực, được miễn đóng bảo hiểm y
tế.
Ngoài ra các nhà
thờ cũng tổ chức các hoạt động nhân đạo từ thiện như phân phát quần áo cũ, thức ăn, tổ chức các buổi tiệc văn nghệ cho người nghèo hàng năm.
Người nghèo tại
Đức được nhận khá đầy đủ sự hỗ trợ từ phía chính phủ và các tổ chức tôn giáo
trong nước, chính vì thế nhiều tổ chức từ thiện của một số nhóm người được
thành lập có nguyện vọng giúp đỡ người dân ở các nước nghèo khác như ở các nước
ở Châu Phi, Nam Mỹ, Châu Á...
Nếu so sánh sẽ
nhận thấy các hoạt động nhân đạo từ thiện trong cộng đồng ở Việt Nam rất khác
biệt.
Các chương trình
tổ chức hoạt động quyên góp từ thiện do các tổ chức, cơ quan trong nước có phần
gượng ép. Một số chương trình quyên góp từ thiện một cách rùm beng mang tính
chất quảng cáo, đánh bóng tên tuổi cho cá nhân, cho công ty.
Tiền, quà khi được
chuyển tới tay người cần giúp đỡ đã bị bớt xén nhiều.
Nhưng nổi bật lên
cách kêu gọi từ thiện khá có uy tín của hệ thống báo chí khi đăng tin, bài viết
về hoàn cảnh cụ thể của người dân cần nhận sự giúp đỡ. Họ đứng ra tiếp nhận và
công khai số tiền, quà ủng hộ sau đó cử cán bộ chuyển sự giúp đỡ tới tận tay
người dân.
Bên cạnh đó các
sinh viên học sinh cũng đang là những người tiên phong trong những việc làm
nhân đạo từ thiện mang tính tự phát nhưng theo đúng nghĩa của nó.
|
|
|
|
Xuất phát từ ý tưởng nào khiến
anh chị thành lập nhóm “Hi vọng cho
ngày mai”? Và ý tưởng đó là của anh hay chị ?
|
|
|
|
Anh Johannes từng
tâm sự với chị rằng vào thời gian trước khi anh gặp chị, anh đã luôn có mong
muốn giúp đỡ cho những người nghèo, thiếu may mắn nhưng thật sự chưa có
nhiều cơ hội.
Đến khi anh chị
quen biết nhau và quyết định lấy nhau, nhận thấy cuộc sống của hai vợ chồng
nghệ sĩ tại Đức thật sự rất bấp bênh, không thể có điều kiện để nuôi
dạy con cho tốt nên anh chị đã quyết định không sinh con.
Thay vào
đó anh chị sẽ giành thời gian, tình yêu thương cho những đứa trẻ thiếu may mắn
khác. Anh chị luôn thấy mình may mắn bởi vì anh chị có
được tình yêu, hạnh phúc bên nhau và luôn tâm đầu ý hợp.
|
|
|
|
Anh, chị
hãy bật bí đôi nét về bản thân mình
?
|
|
|
|
Anh Johannes trước
đây đã từng là giáo viên trong vòng 12 năm dạy tiếng Anh và dạy hội họa tại một
trường phổ thông cơ sở cấp 2 ở Đức.
Vì sẵn có niềm đam
mê, năng khiếu âm nhạc từ nhỏ nên năm 1995 anh quyết định nghỉ việc dạy học và
theo nghiệp đàn ca cho tới nay.
Còn về bản thân
chị, tốt nghiệp trường Đại học Mỹ Thuật Công
Nghiệp, khoa mỹ thuật truyền thống, ngành Sơn
mài năm 1997. Ra trường chị đi làm cho một công ty xuất khẩu hàng mỹ nghệ nên
đã từng vài lần đi công tác tại Đức. Qua một người em
họ đi du học ở Đức nên chị đã quen biết anh Johannes.
Chị lấy chồng và
sang Đức đầu năm 2006, từ đó đến nay chị hoạt động như một họa sĩ tự do. Từ khi
thành lập Hope For Tomorrow - Hi vọng cho ngày mai, lại có chồng ủng hộ 100%
nên chị giành nhiều thời gian hơn cả cho công việc của nhóm.
|
|
|
|
Anh chị
thì sống ở Đức, vậy có khó khăn gì khi đối tượng giúp đỡ lại ở Việt nam
?
|
|
|
|
Anh chị sống ở Đức
nhưng đối tượng giúp đỡ là các trẻ sống ở Việt Nam vì thế khó khăn hiển nhiên
là trong việc thu thập thông tin, hình ảnh và chuyển sự giúp đỡ từ Đức tới các
cháu và gia đình các cháu.
Nhờ có được sự
giúp đỡ nhiệt tình của một số TNV sống tại Việt Nam, trở thành cầu nối đáng
tin cậy nên anh chị đã dần dần thực hiện được kế hoạch giúp đỡ của mình.
|
|
|
|
Tại sao anh chị lại chọn đối tượng giúp đỡ là trẻ em nhiễm
HIV sống trong gia đình người có H tại Việt Nam.
|
|
|
|
Có rất nhiều đối
tượng trẻ em mồ côi, tàn tật, trẻ em nghèo ở Việt Nam cần được giúp đỡ nhưng
anh chị quyết định chọn đối tượng giúp đỡ là trẻ nhiễm HIV, trẻ sinh trong gia
đình người có HIV bởi vì trên thực tế số lượng các
cháu này ngày một gia tăng nhưng do nạn kỳ thị với người có H nên thực trạng là
các cháu đang vô tình bị cộng đồng, xã hội cô lập, tẩy chay.
|
|
|
|
Hiện nay, trong công việc của
nhóm “Hi vọng cho ngày mai”, điều gì khiến anh chị còn trăn trở ?
|
|
|
|
Điều trăn trở lúc
này là việc mở rộng được đối tượng TNV tại địa phương nơi có trẻ cần giúp đỡ
sinh sống, đồng thời cả TNV Việt Nam sống tại Đức. Sức quản lý của
anh chị có hạn mà số trẻ cần được giúp đỡ còn rất nhiều.
|
|
|
|
Từ khi thành lập cho đến nay, anh
chị đã kêu gọi được bao nhiêu TNV ? Làm không lương, việc kêu gọi chắc cũng gặp
khó khăn ?
|
|
|
|
Từ khi thành lập
cho đến nay, nhóm đã kêu gọi được 15 TNV chính thức tham gia, trong đó có 13
TNV sống tại Việt Nam và 2 TNV nước ngoài.
Tất cả các thành
viên trong nhóm hoạt động hoàn toàn tự nguyện và không có lương. Với tiêu chí:
thành viên sáng lập nhóm cũng
như các TNV chính là người làm từ thiện và được quyền giám
sát, chuyển sự giúp đỡ đến đúng đối tượng cần giúp đỡ.
Chính vì thế việc vận động, kêu gọi tình nguyện viên có tâm huyết không dễ
nhưng khi đã có ai đăng ký tham gia TNV là tham gia hết mình.
Có một số TNV
trong nhóm, lúc đầu chỉ đứng ở vị trí người ủng hộ. Những dịp nhóm tổ chức
chương trình giúp đỡ đều mời các bạn ấy tham gia để tận mắt chứng kiến sự giúp
đỡ của mình đến được tay trẻ. Và chỉ sau vài lần
tiếp cận cách hoạt động của nhóm, các bạn ấy đã bị thuyết phục và xin chính
thức trở thành TNV của nhóm.
TNV tham gia ít
nhiều tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của bản thân. Một số TNV không có nhiều
thời gian nhưng các bạn có khả năng dịch thư từ giữa người đỡ đầu với trẻ và
tham gia online đấy cũng là sự đóng góp rất đáng quý.
|
|
|
|
Có TNV
nào nhiễm H không? Anh chị thấy hiệu quả những việc làm của Nhóm ra sao
?
|
|
|
|
Hiện tại có một
TNV nhiễm H. Chị chính là mẹ của một cháu được nhận đỡ đầu thông qua sự giúp đỡ
của nhóm.
Hiệu quả những
việc làm của nhóm ngoài việc động viên, nâng đỡ các cháu nhỏ, còn tạo được một
phong trào thanh niên làm việc thiện, cũng là cơ hội để các bạn học hỏi, hiểu
biết thêm về căn bệnh HIV/AIDS, tự biết bảo vệ bản thân và bảo vệ cho người
khác; chia sẻ, động viên những người có H giúp cho họ xóa
dần đi những mặc cảm về chính bản thân; TNV tuyên truyền ngay tới bạn bè, người
thân trong gia đình để giảm dần và xóa bỏ sự kỳ thị của cộng đồng với những
người có H.
|
|
|
|
Câu 9: Bao lâu thì anh chị về Việt Nam 1
lần để giao lưu với Nhóm tại Việt Nam.
|
|
|
|
Hàng năm ít nhất 1
lần.
|
|
|
|
Họ đến giờ phút này các nhà hảo
tâm mà chị biết là những đối tượng nào (lãnh đạo, doanh nghiệp, các tổ chức, cá
nhân….) ?
|
|
|
|
Nhóm đã đón nhận được nhiều sự ủng hộ từ
các cá nhân ở Việt Nam cũng như ở Đức, từ sinh viên, cán bộ về hưu đến các
cán bộ trí thức đang còn công tác như luật sư, bác sĩ, thư ký, giáo viên, nhân
viên Ngân Hàng ...
|
|
|
|
Câu 11: Chị có
thể kể cụ thể cách thức giúp đỡ của họ đối với trẻ? Họ không gặp trực tiếp trẻ,
vậy làm thế nào để họ tin ?
|
|
|
|
Để tạo được độ tin
cậy cao cho người ủng hộ, người nhận đỡ đầu cho trẻ, nhóm đã đăng ký và có mã
số hoạt động từ thiện chính thức từ cơ quan có thẩm quyền tại nước Cộng hòa
liên bang Đức.
Trên trang web, nhóm công khai đưa ảnh, tên
và địa chỉ, điện thoại nơi học tập, công tác của các TNV tham gia tại Việt Nam.
Tại Đức,
một số
người ủng hộ chung cho các hoạt động giúp đỡ của nhóm,
một số người khác lại
muốn nhận đỡ đầu cho 1 đến 2 trẻ cụ thể theo mô hình Người đỡ đầu.
Mô hình Người đỡ đầu: Mỗi khi có trường hợp trẻ cần tìm người đỡ đầu, được phép của gia đình,
nhóm đăng ảnh và tin của trẻ trên trang web tiếng Đức.
Người hảo tâm muốn nhận đỡ đầu cho đối tượng trẻ nào sẽ liên hệ email
với anh chị để biết thêm thông tin và nhận thêm hình ảnh của trẻ đó.
Ngay khi đó anh chị giới thiệu với người đỡ đầu TNV đứng ra đảm nhiệm
việc liên hệ giữa người đỡ đầu và trẻ.
Người đỡ đầu sẽ giúp cho mỗi trẻ với số
tiền tối thiểu theo quy định cho 1 cháu tương
đương là 440.000 đ/1 tháng, nếu nhận giúp cho
2 cháu trong một gia đình số tiền sẽ là 660.000 đ/1 tháng. Ngoài ra họ có quyền viết thư, gửi quà động
viên trẻ và trực tiếp đến thăm trẻ bất cứ lúc nào.
TNV sẽ có trách nhiệm chuyển sự giúp đỡ của người đỡ đầu tới trẻ, đồng
thời nhận và chuyển thư của trẻ, gia đình trẻ tới người đỡ đầu.
Mỗi lần đến thăm trẻ, TNV chụp ảnh và có báo cáo lại những thông tin cập
nhật về trẻ và hoàn cảnh sống của trẻ tới người đỡ đầu.
|
|
|
|
Các trẻ mà nhóm giúp đỡ hiện
đang sống ở các tỉnh, thành nào ?
|
|
|
|
Cho tới giờ
các trẻ đỡ đầu và nhóm trẻ được nhận giúp đỡ mới chỉ triển khai được trong địa
bàn Hà Nội, Hà Nội mới, Hưng Yên.
|
|
|
|
Anh,
chị hãy chia sẻ những khó khăn trong
công việc ?
|
|
|
|
Khó khăn trong công việc nhiều nhất vẫn là khi triển khai Mô hình Người
đỡ đầu, đặc biệt là giai đoạn kết nối ban đầu cho từng trẻ.
Lúc này mọi thông tin, hình ảnh về trẻ cần phải truyền đi rất mau lẹ.
Vì có sự bất đồng ngôn ngữ nên mọi trao đổi giữa trẻ, gia đình với
người đỡ đầu đều thông qua TNV và anh chị.
Mô hình Người đỡ
đầu tiến triển khá tốt vì nhóm đang gây được uy tín khá cao tại Đức. Từ một người nhận
đỡ đầu lại tuyên truyền tiếp cho các bạn bè khác nên số người muốn chung tay
giúp đỡ trẻ Việt Nam cứ nhiều dần lên. Cho tới tháng 4.2010 nhóm đã kết nối sự đỡ đầu cho 15 trẻ.
Tuy thế sức quản
lý của anh chị có hạn và anh chị không muốn vì tham thành tích mà làm việc
thiếu trách nhiệm, điều đó sẽ gây tổn hại uy tín của nhóm và không giữ được
người đỡ đầu cho chính các cháu hiện đang được nhận đỡ đầu.
Trẻ em bất hạnh,
hậu quả của đại dịch HIV/AIDS còn nhiều quá. Anh chị luôn ao ước có thêm các
bạn Việt Nam sống tại Đức có cùng tâm huyết tham gia gánh vác chia sẻ công việc
để có thể giúp cho nhiều trẻ hơn nữa. Tiếc là thời điểm gặp được những người như thế chưa đến, đành phải kiên nhẫn và
hài lòng với những gì mình đang làm được.
|
|
|
|
Nhóm có
kế hoạch gì cho tương lai tới ?
|
|
|
|
Trong tương lai nhóm
muốn tổ chức nhiều hơn các hoạt động giúp đỡ trẻ ở các địa phương xa Hà Nội hơn.
|
|
|
|
Hà
nội, tháng
4.2010
Kim Oanh
|
|

hope-for-tomorrow.de
|